Cây trồng biến đổi gen tác động và triển vọng tại Việt Nam

cây trồng biến đổi gen

Cây trồng biến đổi gen tại Việt Nam” là bài viết tổng kết sơ lược một số thành tựu nổi bật về công nghệ biến đổi gen trên cây trồng, một vài tác động tiêu cực có thể có đối với con người và môi trường, cũng như triển vọng của CTBĐG ở Việt Nam, để giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát hơn đối với loại cây trồng này.

Cây trồng biến đổi gen là gì?

Cây trồng biến đổi gen là cây trồng mới, được áp dụng kỹ thuật di truyền hiện đại để làm biến đổi cấu trúc ADN của nhân tế bào nhằm tạo ra các tính trạng mới theo ý muốn của con người như tính kháng sâu bệnh, tính thích nghi, phẩm chất, màu sắc… của nông sản.

Về bản chất của cây trồng biến đổi gen là sự biến đổi vật chất di truyền, tiếp nhận những gen mới, kết quả là xuất hiện những tính trạng mới. Quá trình biến đổi vật chất di truyền (thêm gen mới) nhờ vào công nghệ chuyển gen hiện đại. Nếu so sánh quá trình biến đổi gen với quá trình đột biến trong tự nhiên thì về bản chất của hai quá trình này gần giống như nhau. Bởi vì quá trình tiến hóa của sinh vật đều dựa vào quá trình biến đổi vật chất di truyền, trong đó đột biến đóng vai trò quan trọng.

cây trồng biến đổi gen

Dưới tác động của các nhân tố gây đột biến, vật chất di truyền được biến đổi theo hai hướng: thêm đoạn gen hay bớt đoạn gen. Quá trình thêm đoạn nhờ công nghệ chuyển đổi gen tương tự như quá trình thêm đoạn ADN trong đột biến tự nhiên. Tuy nhiên hai quá trình này có nhiều điểm khác nhau:

  • Quá trình chọn lọc tự nhiên chỉ giữ lại những biến dị có lợi cho quá trình tiến hóa của loài.
  • Trong kỹ thuật chuyển gen, cây trồng chỉ giữ lại tính trạng định hướng trước theo ý muốn của con người nhằm vào mục đích kinh tế hoặc chất lượng và không đóng góp gì cho sự tiến hóa của loài.

Quá trình hình thành tính trạng mới trong tự nhiên phải diễn ra hàng trăm năm, hàng ngàn năm hoặc hàng triệu năm, còn quá trình chuyển đổi gen theo công nghệ hiện đại chỉ cần 1-2 năm để bổ sung các tính trạng ưu việt mới.

Quá trình tiếp nhận gen mới trong tự nhiên bị ngăn cản bởi ranh giới loài, công nghệ chuyển gen cho phép di chuyển các gen mới từ các loài khác mà phương pháp lai tạo truyền thống không thể thực hiện được.

Mặc dù cây trồng chuyển đổi gen đang bị công kích bởi các nhà bảo vệ tự nhiên cũng như các tôn giáo và những trường phái bảo thủ. Song với tính ưu việt của cây trồng chyến đổi gen, xu thế mở rộng diện tích thay dần cho cây trồng truyền thống là điều hiển nhiên, trước hết ở những nước có nền công nghệ sinh học và nền nông nghiệp tiên tiến.

Cây trồng biến đổi gen được đề cập ở chuyên đề này chỉ ra những giống cây trồng được chọn tạo bằng kỹ thuật di truyền hiện đại, chuyển vào cây trồng truyền thống những gen hoàn toàn mới từ các sinh vật khác vào cây trồng như từ gen của cây trồng khác loài, từ vi khuẩn, tảo, nguyên sinh động vật…

Lịch sử của cây trồng biến đổi gen

Các lĩnh vực thử nghiệm đầu tiên của thực vật biến đổi gen xảy ra ở Pháp và Mỹ vào năm 1986, khi cây thuốc lá  được  lai  tạo  để  đề  kháng  với thuốc diệt  cỏ. Năm  1987, Viện di truyền thực vật Ghent (Bỉ) do Marc Van Montagu và Jeff Schell thành lập, được các công ty đầu tư để phát triển kỹ thuật di truyền trên cây thuốc lá, với khả năng chịu côn trùng bằng cách thể hiện gen mã hóa cho protein diệt côn trùng từ loài vi khuẩn BT (Bacillus thuringiensis).

Trung Quốc là quốc gia đầu tiên cho phép thương mại hóa cây thuốc lá biến đổi gen kháng virút vào năm 1992. Cây trồng biến đổi gen đầu tiên được chấp thuận cho bán tại Mỹ năm 1994 là cây cà chua FlavrSavr có thời gian bảo quản lâu hơn.

Năm 1994, Liên minh Châu Âu (EU) đã phê chuẩn cây thuốc lá có khả năng chịu thuốc diệt cỏ bromoxynil, là cây trồng biến đổi gen đầu tiên trên thị trường ở Châu Âu.

Năm 1995, khoai tây biến đổi gen BT đã được phê duyệt an toàn của Cơ quan Bảo vệ môi trường, là cây trồng thực phẩm biến đổi gen đầu tiên được chấp thuận tại Hoa Kỳ.

Năm 2009 có 25 quốc gia nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu cây trồng biến đổi gen, trong đó chủ yếu là các nước phát triển và đang phát triển (15 nước). Diện tích cây biến đổi gen khoảng 180 triệu ha, trong đó Hoa Kỳ 62,5 triệu ha, Argentina 21 triệu ha, Brazil 15,8 triệu ha, Ấn Độ 7,6 triệu ha, Canada 7,6 triệu ha…

Theo đánh giá của Clive James, giám đốc của ISAAA (Cơ quan dịch vụ quốc tế về tiếp thu các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp). Chỉ trong 15 năm sau khi thương mại hóa, cây trồng công nghệ sinh học biến đổi gen vượt 180 triệu ha trong năm 2010, trong đó có 154 triệu nông dân ở 29 quốc gia hiện đang được hưởng lợi từ công nghệ mới này. Với sự gia tăng 87 lần chưa từng có từ năm 1996 đến 2010, cây trồng công nghệ sinh học là công nghệ cây trồng được áp dụng nhanh nhất trong lịch sử của nông nghiệp hiện đại.

Trong năm 2010, các nước đã phát triển các loại cây trồng biến đổi gen là: Hoa Kỳ (45%), Brazil (17%), Argentina (15%), Ấn Độ (6%), Canada (6%), Trung Quốc (2%), Paraguay (2%), Pakistan (2%), Nam Phi (1%) và Uruguay (1%).

Tại Mỹ trong năm 2010 cây trồng giống biến đổi gen đã chiếm: 93% diện tích trồng đậu tương, 93% bông, 86% ngô và 95% củ cải đường. Trong đó giống đậu tương biến đổi gen được ghép vào gen kháng thuốc diệt cỏ glyphosate. Bông và ngô được chuyển vào cả 2 gen chống thuốc diệt cỏ glyphosat và gen diệt côn trùng BT (được chuyển từ loài vi khuẩn Bacillus thuringiensis).

Các tính trạng chuyển gen của thực vật

Theo số liệu báo cáo của Trung tâm dịch vụ Quốc tế về tiếp thu các ứng dụng Công nghệ Sinh học trong Nông nghiệp (ISAAA, 2015), đến nay các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu, phát triển cây trồng biến đổi gen cho 24 loại cây trồng khác nhau với 364 sự kiện (Event) chuyển gen đã được tạo ra, bao gồm các nhóm cây lấy hạt, cây lấy dầu, cây lấy củ, cây lấy quả, cây lấy sợi và cây hoa (Bảng 1). Trong số đó, cây ngô được nghiên cứu chủ yếu với 138 sự kiện, tiếp đến là cây bông vải (54), khoai tây (42), cải dầu (36), đậu tương (30). Trong tổng số 36 gen đã được chuyển vào cây trồng có 14 gen (Bảng 2) được ứng dụng rộng rãi hơn cả như: gen kháng kháng sinh, gen kháng côn trùng, gen kháng thuốc diệt cỏ, gen nâng cao khả năng chống chịu hạn, gen kháng bệnh virus, gen biến đổi màu sắc hoa,…

Bảng 1. Cây trồng và sự kiện chuyển gen (Event)

Cây trồng Event Cây trồng Event Cây trồng Event
Ngô – Zea mays L 138 Alfalfa – Medicago 4 Thuốc         lá         – 2
sativa Nicotiana tabacum L.
Bông    – Gossypium hirsutum L 54 Cả dầu Ba Lan –

Brassica rapa

4 Cà tím – Solanum melongena 1
Khoai        tây        –

Solanum tuberosum L.

 

42

 

Củ    cải    đường    –

Beta vulgaris

 

3

Creeping Bentgrass Agrostis stolonifera  

 

1

Cải                      dầu

Argentina-

Brassica napus

 

32

Mía       đường

Saccharum sp

 

3

Lanh           – Linum usitatissumum L.  

1

Đậu        tương        –

Glycine max L.

30 Táo-Malus Domestica x 2 Mận          – Prunus domestica 1
Cẩm      chướng      – Dianthus caryophyllus  

19

Hoa hướng dương

Populus sp.

 

2

Petunia    – Petunia hybrida  

1

Cà          chua          – Lycopersicon esculentum  

11

Hoa    hồng    – Rosa hybrida  

2

Ớt          ngọt          –

Capsicum annuum

 

1

Lúa – Oryza sativa L 7 Bí – Cucurbita pepo 2 Lúa mì – Triticum aestivum 1

Bảng 2. Các tính trạng chuyển gen

STT Tính trạng Cây trồng
1 Kháng kháng sinh Bông, Alfalfa, Lanh
2 Kháng côn trùng bộ cánh vẩy Ngô, khoai tây
3 Kìm hãm quá trình chín Cà chua, cẩm chướng, chanh
4 Chịu hạn Ngô, mía đường
5 Phục hồi hữu dục Cải dầu, ngô
6 Kháng thuốc diệt cỏ Glufosinate Bông, cải dầu
7 Kháng thuốc diệt cỏ Kháng thuốc diệt cỏ Glyphosate Ngô, Alfalfa, cải dầu
8 Kháng côn trùng bộ cánh cứng Bông, ngô, đậu tương, lúa
9 Gây bất dục đực hạt phấn Cải, ngô
10 Biến đổi màu sắc hoa Hoa hồng, hoa cẩm chướng
11 Biến đổi acid béo Đậu tương, cải dầu
12 Gen kháng đa côn trùng Hướng dương, bông, ngô
13 Tổng hợp amino acid thiết yếu với sự có mặt của thuốc diệt cỏ Sulfonylurea Cây lanh, đậu tương, bông, ngô
14 Kháng bệnh virus Đậu, bí, ớt ngọt, cà chua, mận, đu đủ, khoai tây

Tình hình cây trồng biến đổi gen

Theo báo cáo hàng năm của ISAAA, sau 19 năm phát triển (kể từ năm 1996), các loại cây trồng chuyển gen được thương mại hóa ngày càng tăng qua các năm. Tính riêng năm 2014, cây trồng biến đổi gen được trồng rộng rãi tại 28 nước với tổng diện tích khoảng 181,5 triệu ha (số nước trồng cây biến đổi gen tăng 4 lần, diện tích tăng hơn 100 lần so với năm 1996), tỷ lệ tăng trưởng hàng năm khoảng 3 đến 4%. Trong đó Mỹ là quốc gia đứng đầu về diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới (73,1 triệu ha, chiếm 40%), tiếp đến là Barazil (42,2 triệu ha), Argentina (24,3 triệu ha), Ấn Độ (11,6 triệu ha), Canada (11,6 triệu ha).

Điều đáng chú ý là số quốc gia đang phát triển đưa cây trồng biến đổi gen vào canh tác ngày càng tăng trong khi các nước phát triển (đặc biệt là các nước Châu Âu) rất hạn chế mở rộng diện tích. Khoảng 10 năm đầu, từ 1996-2006, các nước đang phát triển sử dụng cây trồng biến đổi gen trong canh tác còn rất ít.

Tuy nhiên khoảng cách đã dần được thu hẹp ở các năm sau đó. Trong 3 năm gần đây diện tích cây trồng biến đổi gen ở các nước đang phát triển luôn cao hơn các nước phát triển (khoảng 100 so với 81 triệu ha năm 2014). Điều này cho thấy, cây trồng chuyển gen đang đóng góp tích cực cho phát triển nông nghiệp và tăng trưởng kinh tế đặc biệt là các nước đang phát triển do giảm được chi phí sản xuất, nâng cao năng suất.

Dựa kết quả của 147 nghiên cứu được thực hiện trong 20 năm cho thấy, cây trồng chuyển gen đã giảm 37% lượng phân bón hóa học, tăng 22% năng suất cây trồng, tăng 68% lợi nhuận của người nông dân. Ngoài ra việc trồng cây chuyển gen kháng thuốc diệt cỏ, kháng sâu bệnh hại đã giảm đáng kể lượng thuốc trừ sâu sử dụng, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường, cân bằng sinh thái.

Mặc dù rất nhiều gen được ứng dụng chuyển vào trong cây nhưng cho tới nay mới chỉ có 7 nhóm tính trạng được phép thương mại hóa (Bảng 3), bao gồm khả năng chống chịu các stress phi sinh học, năng suất hạt, kháng côn trùng, kháng thuốc diệt cỏ, nâng cao chất lượng, kiểm soát sự thụ phấn. Trong đó 3 nhóm cây trồng chuyển gen được canh tác chủ yếu gồm: kháng thuốc diệt cỏ (trên 100 triệu ha), đa tính trạng (khoảng 50 triệu ha), kháng côn trùng (khoảng 27 triệu ha). Đậu tương, bông, ngô và cây cải dầu vẫn là 4 cây trồng được canh tác rộng rãi nhất. Trong tổng số 111 triệu ha đậu tương, giống chuyển gen chiếm 85% diện tích, bông chiếm 68% trong tổng số 37 triệu ha, ngô chiếm 30% trong tổng số 184 triệu ha, cải dầu chiếm 25% trong 36 triệu ha (ISAAA, 2014).

Bảng 3. Các tính trạng chuyển gen được thương mại hóa

Tính trạng Cây trồng
Chống chịu stress phi sinh học Ngô, mía đường
Tăng năng suất hạt Đậu tương
Kháng bệnh Đậu, đu đủ, mận, khoai tây, bí, ơt ngọt, cà chua
Kháng thuốc diệt cỏ Alfalfa, cải dầu, cẩm chướng, bông, lanh, ngô, rau diếp xoăn, khoai tây, đậu tương, thuốc lá, lúa, lúa mì, củ cải
đường
 

Kháng côn trùng

Alfalfa, cải dầu, cẩm chướng, bông, lanh, ngô, rau riếp xoăn, khoai tây, đậu tương, thuốc lá, lúa, lúa mì, củ cải đường.
Nâng cao chất lượng Alfalfa, táo, cải dầu, cẩm chướng, ngô, chanh, petunia, khoai tây, hoa hồng, lúa, đậu tương, thuốc lá, cà chua.
Kiểm soát thụ phấn Cải dầu, rau diếp xoăn, ngô.

Những tác hại có thể có của cây trồng biến đổi gen

Cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ và phản đối cây trồng biến đổi gen và thực phẩm có nguồn gốc từ cây trồng biến đổi gen đã và vẫn đang tiếp diễn. Những tranh luận của cả hai phía, phía ủng hộ và phía phản đối chủ yếu trên các vấn đề sau: độc hại cho môi trường, có hại cho sức khỏe của con người, và ảnh hưởng đến kinh tế.

Ảnh hướng đến môi trường: Đa số các thí nghiệm khoa học trong vấn đề này đều chưa mang lại kết luận cuối cùng. Rất nhiều thí nghiệm đã được thực hiện, nhưng chúng không cho kết quả đồng nhất, và vì thế mỗi phía đều dùng những số liệu có lợi cho mình. Ngay cả khi những tiêu cực của việc sử dụng cây trồng biến đổi gen đã được phát hiện, thì cũng luôn có những biện pháp có thể được thực hiện nhằm giảm thiểu những tác động này. Sau đây là những tác hại có thể có đến môi trường của cây trồng biến đổi gen:

Những tác động không lường trước của cây biến đổi gen đối với các sinh vật khác vốn không phải là đối tượng chính của nó: Vấn đề này cũng đã được nghiên cứu và các báo cáo đều không cho một đáp số chung. Một nghiên cứu công bố năm 1999 đã cho thấy phấn hoa của ngô Bt vốn để ngăn ngừa sâu cắn lá lại làm tăng tỉ lệ chết của sâu của loài bướm bông tai D. plexippus. Thức ăn chính của loài sâu này là cây cỏ sữa A. syriaca chứ không phải là ngô. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong của sâu của loài bướm bông tai ở xung quanh khu vực trồng ngô Bt cao hơn so với ở khu vực trồng ngô không biến đổi gen đối chứng đã khiến nhóm nghiên cứu nói trên đưa ra giả định là phấn hoa của ngô Bt bị phát tán theo gió, bay lên và đậu trên cây cỏ sữa và gây ngộ độc cho sâu của loài bướm D. plexippus. Tuy nhiên những báo cáo sau này đều cho thấy sự tăng trưởng và phát triển của loài bướm nói trên cũng như cộng đồng vi sinh vật có trong môi trường gần nơi trồng ngô Bt là không có sự khác biệt so với nơi trồng các loại ngô không biến đổi gen.

Giảm hiệu quả của việc dùng thuốc trừ sâu: Các nhà khoa học lo ngại rằng việc sử dụng cây trồng có chất Bt sẽ góp phần tạo ra loại côn trùng kháng lại chất Bt và điều này đã được ghi nhận bởi một số công trình nghiên cứu gần đây.

Tạo ra loại cỏ kháng thuốc diệt cỏ: Có thể các loại cỏ sẽ lai tạo chéo với các giống cây biến đổi gen và kháng lại thuốc diệt cỏ. Một vài loại cỏ kháng thuốc diệt cỏ đã được phát hiện tại bang Georgia, Mỹ. Nguyên nhân của việc này được cho rằng khi người nông dân dùng một lúc nhiều loại thuốc diệt cỏ có độc tính cao cùng với các phương pháp diệt trừ cơ học (nhổ, cuốc) dẫn đến việc phát triển gen kháng thuốc trên cỏ chậm lại. Khi dùng cây biến đổi gen, do chỉ cần dùng một loại thuốc diệt cỏ là glyphosate (một loại thuốc không có tính độc hại cao bằng các loại thuốc khác) mà không dùng thêm các phương pháp cơ học đã tạo cơ hội để cỏ dại phát triển tính kháng rất nhanh đối với thuốc diệt cỏ.

Gen được chuyển vào cây biến đổi gen sẽ phát tán và nhiễm tạp các cây dại trong tự nhiên. Vào năm 2001, có một báo cáo khoa học cho thấy gen chuyển vào ngô Bt đã được phát hiện ở một số loại ngô dại ở Mêhicô, nơi có số lượng cây ngô dại đa dạng nhất trên thế giới. Tuy nhiên, những khe hở trong phương pháp và kết quả của nghiên cứu này đã được phân tích, và các thí nghiệm sau đó đều không tìm thấy gen được chuyển vào ngô Bt trong ngô dại. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy các cây trồng có khả năng phát tán hạt phấn và lai tạo tự nhiên với cây khác cùng loài. Do đó, gen được chuyển vào trong cây biến đổi

gen đã được tìm thấy trong cây dại trong tự nhiên trong bán kính từ 10 m đến 3,8 km. Tuy nhiên, khả năng này phụ thuộc vào từng loại cây, điều kiện môi trường và đặc điểm của hạt phấn của từng loại cây.

Ảnh hưởng lên sức khỏe con người: Đa số các tài liệu nghiên cứu cho thấy thực phẩm biến đổi gen có nguồn gốc từ cây trồng biến đổi gen không có hại đến sinh trưởng và phát triển của các động vật chiếm đa số. Tuy nhiên, con số này chỉ phổ biến đối với cộng đồng nghiên cứu khoa học, mà lại không đến được đại chúng. Tiêu biểu như một công trình tổng hợp các nghiên cứu về sinh vật biến đổi gen được tài trợ bởi liên minh châu Âu trong gần 25 năm cho thấy rằng chưa có một bằng chứng khoa học xác thực cho thấy sinh vật biến đổi gen thực sự gây hại cho môi trường và sức khỏe của người sử dụng thực phẩm biến đổi gen.

 Tất cả đều cho thấy không thấy có vật liệu ADN lạ từ cây trồng biến đổi gen ở trong cơ thể của các vật nuôi ăn các thức ăn biến đổi gen, và do vậy, thực phẩm biến đổi gen không thể gây ra tác hại nào cho người sử dụng. Một nghiên cứu tổng hợp gần đây nhất vào năm 2012 của các nhà khoa học Anh và Pháp, đăng trên tạp chí Thực phẩm và Chất độc hóa học, trong  đó xem xét gần 12 thí nghiệm ngắn hạn và dài hạn (từ chín tháng cho đến hai năm), và gần 12 thí nghiệm khác nghiên cứu từ hai đến năm thế hệ động vật ăn các thực phẩm biến đổi gen, đã chứng minh được rằng cây trồng biến đổi gen có hàm lượng dinh dưỡng tương đương với các cây trồng bình thường và hoàn toàn an toàn trong chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Mặc dù có những khác biệt nhỏ được phát hiện, nhưng chúng nằm trong giới hạn cho phép và không gây ra các tác hại nào về mặt sinh học.

Trong khi đó, giới truyền thông và những người phản đối GMO luôn bỏ qua thông tin từ giới khoa học mà chỉ chọn ra một số nhỏ các báo cáo về tác hại của việc sử dụng thực phẩm biến đổi gen để minh chứng cho luận điểm của mình. Những bài báo này luôn báo cáo các con số cho thấy sự khác nhau giữa thực phẩm biến đổi gen và nhóm đối chứng trên động vật thí nghiệm mà đôi khi không chú ý rằng sự khác nhau này có thực sự khác biệt về thống kê, hay những khác biệt này có nằm ngoài ngưỡng cho phép hay không, hoặc có thể gây hại vì về mặt sinh/hóa học hay không lại là một điều hoàn toàn khác.

Tiêu biểu có thể kể đến hai kết quả nghiên cứu vốn được sử dụng nhiều bởi những người phản đối thực phẩm chuyển gen. Nghiên cứu thứ nhất của nhà khoa học Pusztai ở Anh chứng minh là đường tiêu hóa của các con chuột thí nghiệm ăn khoai tây biến đổi gen có xuất hiện các rãnh và tổn hại về mô. Tuy nhiên, bài báo này đã được hai hội đồng khoa học khác nhau thẩm định chỉ ra nhiều thiếu sót và chứng minh rằng nó không đủ chứng cứ khoa học và có độ tin cậy không cao.

Khoai tây biến đổi gen được dùng cho nghiên cứu này do chính nhà khoa học này tạo nên mà không phải là loại khoai tây được phát triển bởi các công ty giống cây trồng, vốn phải trải qua quá trình kiểm định lâu dài và tốn kém hàng triệu đô la. Hơn nữa, số liệu của nghiên cứu này cũng được cho là sơ sài và quan trọng nhất là không cho thấy được sự khác nhau thật sự có ý nghĩa thống kê. Bài báo thứ hai được công bố vào năm 2011 đã kết luận rằng chất Bt đã được tìm thấy trong mẫu máu của nhiều phụ nữ và thai nhi ở một bệnh viện ở Quebec, Canada.

Kết quả này được quy cho là do ăn thực phẩm từ ngô biến đổi gen Bt, điều này đã làm dấy lên sự lo lắng của người tiêu dùng cũng như cơn thịnh nộ của những người chống lại thực phẩm biến đổi gen. Tuy nhiên, tổ chức tiêu chuẩn thực phẩm của Úc và New Zealand đã chỉ ra các thiếu sót trong lập luận và nghiên cứu của

các tác giả bài báo này. Thứ nhất, việc quy kết là hàm lượng chất Bt trong máu của phụ nữ ở trong nghiên cứu này là do ăn ngô biến đổi gen Bt là thiếu căn cứ khoa học. Chất độc Bt vốn còn được dùng nhiều trong các thuốc trừ sâu phổ biến (Delfin, Dipel) phun trên nhiều loại cây rau khác nhau như khoai tây, cà chua, súp lơ, dưa hấu,… và thậm chí được phép sử dụng trên các loại thực phẩm được dán nhãn “hữu cơ/sạch”.

Do vậy việc tìm thấy hàm lượng Bt trong máu không thể kết luận là do liên quan tới việc ăn ngô biến đổi gen khi mà chưa phân tích kĩ càng chế độ ăn uống và dinh dưỡng của người tham gia nghiên cứu để phân biệt được hàm lượng Bt trong máu là do ăn ngô Bt hay do ăn các rau quả có phun thuốc chứa Bt. Hơn nữa, để tích tụ hàm lượng Bt như trong nghiên cứu này, một con người phải tiêu thụ một lượng ngô gấp nhiều lần so với khẩu phần ăn của một người bình thường.

Ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội: Mặc dù cây trồng biến đổi gen được quảng cáo là sẽ giúp người nông dân giảm được chi phí cho thuốc trừ sâu và có năng suất cao hơn, trong thực tế, những người nông dân lại bị lệ thuộc vào công ty hạt giống vì mỗi năm họ buộc phải mua giống mới mà không thể sử dụng lại hạt thu từ vụ trước.

Nguyên nhân là vì hạt giống biến đổi gen mà họ mua năm đầu tiên từ các công ty hạt giống sẽ không thể thụ phấn ở các vụ mùa tiếp theo. Đối với người nông dân của các nước thứ ba, chi phí đắt đỏ của giống cây chuyển gen và sự lệ thuộc vào công ty hạt giống sẽ khiến sức hấp dẫn của cây trồng chuyển gen giảm đi.

Thêm vào đó, các công ty này luôn tuyên truyền rằng chỉ có cây trồng biến đổi gen mới có thể giúp con người sản xuất ra đủ lượng thực phẩm để nuôi dân số thế giới, vốn đang tăng lên với mức độ chóng mặt. Tuy nhiên, năng suất trồng trọt còn chưa cao của các nước thứ ba không hẳn là chỉ vì thiếu hạt giống tốt mà còn do nhiều yếu tố khác như tình trạng thiếu phân bón, máy móc, đất đai cằn cỗi, và trình độ quản lí còn yếu kém.

Mặt khác, nguyên nhân gây ra nạn đói ở các nước thứ ba cũng không phải chỉ do thiếu thực phẩm mà còn do các vấn đề kinh tế xã hội như tham nhũng hoặc quá trình phân phối thực phẩm không công bằng khiến cho những người nghèo không thể tiếp cận được với nguồn thức ăn này.

Tác động đối với thu nhập từ canh tác

Công nghệ biến đổi gen (BĐG) đã tạo ra một tác động tích cực đáng kể cho thu nhập từ canh tác của người nông dân khi công nghệ này giúp tăng năng suất cây trồng và hiệu suất canh tác (Bảng 4.1). Năm 2012, lợi ích canh tác thu được trực tiếp từ cây trồng BĐG trên toàn cầu là 18,8 tỷ đô la Mỹ. Khoản này tương đương với 5,6% giá trị sản xuất tăng thêm trên toàn cầu của bốn cây trồng chính là đậu tương, ngô, cải dầu và bông vải. Từ năm 1996, thu nhập canh tác đã tăng 116,6 tỷ đô la Mỹ.

Khoản tăng lớn nhất trong thu nhập từ canh tác năm 2012 thuộc về cây ngô, chủ yếu do tăng năng suất. Khoảng 6,7 tỷ đô la Mỹ thu nhập tăng thêm do ứng dụng ngô BĐG kháng sâu nói riêng trong năm 2012 tương đương với việc gia tăng 6,6% giá trị cây trồng này tại các nước đang ứng dụng cây trồng BĐG, hay góp thêm 3% vào tổng giá trị 226 tỷ đô la Mỹ của vụ ngô toàn cầu năm 2012. Tính lũy kế từ năm 1996, công nghệ BĐG kháng sâu đã giúp tăng thu nhập của nông dân trồng ngô trên toàn thế giới thêm 32,3 tỷ đô la Mỹ.

Ngành trồng bông vải cũng cho thấy mức tăng trưởng ổn định khi công nghệ BĐG giúp tăng cao năng suất và giảm chi phí sản xuất. Năm 2012, mức thu nhập trồng bông vải ở các nước ứng dụng BĐG tăng 5,5 tỷ đô la Mỹ và kể từ năm 1996, ngành này đã hưởng lợi thêm 37,7 tỷ đô la Mỹ. Khoản tăng trưởng của năm 2012 tương đương với 13,5% giá trị

tăng thêm cho vụ bông vải ở các nước này, hay tương đương với 11,5% tăng thêm trong 47 tỷ đô la Mỹ tổng giá trị bông vải sản xuất trên toàn cầu. Đây là một khoản tăng trưởng nổi bật xét về khía cạnh giá trị gia tăng của hai công nghệ hạt giống bông vải mới.

Ngành trồng đậu tương và cải dầu cũng thu được những khoản tăng thu nhập canh tác lớn. Công nghệ BĐG kháng thuốc diệt cỏ ở đậu tương đã giúp thu nhập đến từ canh tác tăng thêm 4,8 tỷ đô la Mỹ năm 2012; và tính từ năm 1996, khoản tăng lũy kế là 37 tỷ đô la Mỹ. Trong khi đó, ngành trồng cải dầu (chủ yếu ở Bắc Mỹ) đã thu được thêm 3,66 tỷ đô la Mỹ (giai đoạn 1996-2012).

Bảng 4: Tăng trưởng trong thu nhập từ việc canh tác cây trồng ứng dụng công nghệ BĐG trên toàn cầu 1996-2012:

Đơn vị: triệu đô la Mỹ

 

 

 

 

Đặc tính cây trồng

 

 

 

Mức tăng thu nhập canh tác năm 2012

 

 

 

Mức tăng thu nhập canh tác từ 1996-2012

Lợi ích thu nhập canh tác năm 2012 tính theo % tổng giá trị sản xuất của các cây trồng này tại

các nước ứng dụng cây trồng BĐG

 

 

Lợi ích thu nhập canh tác năm 2012, đo bằng % tồng giá

trị sản xuất toàn cầu của các cây trồng này

Đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ 4.797,9 37.008,6 4,4 4,0
Ngô BĐG kháng thuốc diệt cỏ 1.197,9 5.414,7 1,2 0,5
Bông vải BĐG kháng thuốc diệt cỏ 147,2 1,371,6 0,4 0,3
Cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ 481,0 3.664,4 4,9 1,3
Ngô BĐG kháng sâu 6.727,8 32.317,2 6,6 3,0
Bông vải BĐG kháng sâu 5.331,3 36.317,2 13,1 11,2
Các cây trồng khác 86,3 496,7 Không áp dụng Không áp dụng
Tổng 18.769,4 116.590,4 6,8 5,6

Chú thích: Tất cả các giá trị đều là giá trị danh nghĩa. Các cây trồng khác = đu đủ và bí chống virut và củ cải đường kháng thuốc diệt cỏ. Tổng trong cột lợi ích thu nhập canh tác đo bằng tỷ lệ tổng giá trị sản xuất không bao gồm “Các cây trồng khác” (nghĩa là chỉ liên quan đến 4 cây trồng chính là đậu tương, ngô, cải dầu và bông vải). Công thức tính thu nhập trang trại là khoản thay đổi thu nhập trang trại ròng sau khi đã tính đến tác động về năng suất, chất lượng cây trồng và các chi phí sản xuất chính (như thanh toán phí sản xuất hạt giống, tác động lên chi phí bảo vệ mùa màng).

Bảng 5 dưới đây tóm tắt các tác động lên thu nhập canh tác tại một số nước chính ứng dụng cây trồng BĐG. Bảng này cho thấy lợi ích quan trọng về thu nhập trang trại thu được từ đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ ở Nam Mỹ (Argentina, Bolivia, Brazil, Paraguay và Uruguay), bông vải BĐG kháng sâu ở Trung Quốc và Ấn Độ, và một loạt các cây trồng BĐG ở Mỹ. Bảng này cũng chỉ ra mức lợi ích thu nhập trang trại đang tăng ở các nước Nam Phi, Philippin, Mexico và Colombia.

Bảng 5: Bảng thu nhập canh tác nhờ cây trồng BĐG 1996-2012 ở một số nước:

Đơn vị: triệu đô la Mỹ

Đậu tương BĐG

kháng thuốc

diệt cỏ

Ngô BĐG

kháng thuốc diệt cỏ

Bông vải BĐG

kháng thuốc diệt cỏ

Cải dầu BĐG

kháng thuốc diệt cỏ

 

Ngô BĐG

kháng sâu

 

Bông vải BĐG

kháng sâu

 

 

Tổng

Mỹ 16.668,7 3.752,3 975,8 268,3 26.375,9 4.046,7 52.087,7
Argentina 13.738,5 766,7 107,0 N/a 495,2 456,4 15.563,8
Brazil 4.825,6 703,4 92,5 N/a 2.761,7 13,3 8.396,5
Paraguay 828 N/a N/a N/a N/a N/a 828,0
Canada 358 81,3 N/a 3.368,8 1.042,9 N/a 4.851,0
Nam Phi 9,1 4,1 3,2 N/a 1.100,6 34,2 1.151,2
Trung Quốc N/a N/a N/a N/a N/a 15.270,4 15.270,4
Ấn Độ N/a N/a N/a N/a N/a 14.557,1 14.557,1
Úc N/a N/a 78,6 27,3 N/a 659,6 765,5
Mexico 5,0 N/a 96,4 N/a N/a 136,6 238,0
Philippin N/a 104,7 N/a N/a 273,6 N/a 378,3
Romani 44,6 N/a N/a N/a N/a N/a 44,6
Uruguay 103,8 N/a N/a N/a 17,6 N/a 121,4
Tây Ban Nha N/a N/a N/a N/a 176,3 N/a 176,3
Các nước EU khác N/a N/a N/a N/a 18,8 N/a 18,8
Colombia N/a 1,7 18,1 N/a 47,4 15,4 826,6
Bolivia 432,2 N/a N/a N/a N/a N/a 432,2
Myanma N/a N/a N/a N/a N/a 215,4 215,4
Pakistan N/a N/a N/a N/a N/a 725,1 725,1
Burkina N/a N/a N/a N/a N/a 186,9 186,9
Faso
Honduras N/a N/a N/a N/a 6,9 N/a 6,9

 Chú thích: Tất cả các giá trị đều là giá trị định danh. Công thức tính thu nhập trang trại là khoản thay đổi thu nhập trang trại ròng sau khi đã tính đến tác động về sản lượng, chất lượng cây trồng và các chi phí sản xuất chính (như thanh toán phí sản xuất hạt giống, tác động lên chi phí bảo vệ mùa màng). N/a = không áp dụng. Tổng của nước Mỹ bao gồm cả 491 triệu đô la Mỹ cho các cây trồng/đặc tính khác (không được nêu trong bảng). Bảng này cũng không bao gồm 5.5 tỷ thu nhập trang trại tăng thêm từ củ cải đường BĐG kháng thuốc diệt cỏ ở Canada.

Khi phân loại lợi ích kinh tế đối với người nông dân ở các nước đang phát triển so với nông dân ở các nước phát triển, Bảng 6 cho thấy trong năm 2012, 46,2% lợi ích thu nhập từ canh tác thuộc về những người nông dân ở các nước đang phát triển. Phần lớn nguồn thu nhập tăng thêm mà những người nông dân các nước đang phát triển có được là nhờ ứng dụng bông vải BĐG kháng sâu và đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ. Trong vòng 17 năm, 1996-2012, tổng thu nhập từ canh tác tăng thêm lũy kế của nông dân các nước đang phát triển là 49.9% (58,15 tỷ đô la Mỹ).

Bảng 6: Lợi ích thu nhập canh tác nhờ cây trồng BĐG năm 2012: Các nước đang phát triển so với các nước phát triển:

Đơn vị: triệu đô la Mỹ

Nước phát triển Nước đang phát triển
Đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ 2.955,4 1.842,5
Ngô BĐG kháng thuốc diệt cỏ 654,0 543,9
Bông vải BĐG kháng thuốc diệt cỏ 71,4 75,8
Cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ 481,0 0
Ngô BĐG kháng sâu 5.327,5 1.400,3
Bông vải BĐG kháng sâu 530,7 4.800,7
Đu đủ và bí BĐG chống virut và củ cải đường BĐG kháng thuốc diệt cỏ  

86,3

 

0

Tổng 10.106,3 8.663,2

Các nước đang phát triển = tất cả các nước tại Nam Mỹ, Mexico, Honduras, Burkina Faso, Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Nam Phi.

Đánh giá chi phí nông dân phải chi trả cho việc tiếp cận công nghệ BĐG, Bảng 7 chỉ ra rằng với bốn cây trồng BĐG chính, tổng chi phí này năm 2012 bằng 23% tổng lợi nhuận thu được nhờ ứng dụng công nghệ (bao gồm phần thu nhập trang trại tăng thêm cộng chi phí công nghệ phải trả cho chuỗi cung cấp hạt giống).

Đối với nông dân các nước đang phát triển, tổng chi phí đầu tư cho công nghệ chiếm khoảng 21% tổng lợi nhuận thu lại từ canh tác các loại cây ứng dụng công nghệ này, trong khi đối với nông dân các nước phát triển, tỉ lệ này là 25%. Mặc dù điều kiện ở các nước khác nhau, tỷ lệ chi phí gia tăng cho việc đầu tư công nghệ trên lợi nhuận gia tăng do canh tác cây trồng ứng dụng các công nghệ này của các nước đang phát triển cao hơn so với các nước phát triển. Điều này cho thấy các nước đang phát triển có hệ thống quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ yếu kém hơn so với các nước đang phát triển, và mức gia tăng thu nhập trung bình trên một hecta mà nông dân các nước đang phát triển thu được cao hơn ở các nước phát triển.

Bảng 7: Chi phí tiếp cận công nghệ BĐG tương ứng với tổng lợi ích thu nhập canh tác năm 2012

Đơn vị: triệu đô la Mỹ

 

Chi phí công nghệ: tất cả nông dân

Thu nhập trang trại tăng thêm: tất cả nông dân Tổng lợi ích nhờ ứng dụng công nghệ

đối với nông dân và chuỗi cung ứng hạt giống

 

Chi phí công nghệ:

các nước đang phát

triển

 

Thu nhập trang trại tăng thêm: các nước đang phát triển

Tổng lợi ích nhờ ứng dụng công nghệ đối với nông dân và chuỗi cung ứng hạt giống: các nước đang phát triển
Đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ  

1.528,1

 

4.797,9

 

6.326,0

 

998,7

 

1,842,5

 

2.841,2

Ngô BĐG kháng thuốc diệt cỏ 1.059,4 1.197,9 2.257,3 364,5 543,9 908,4
Bông vải BĐG kháng thuốc diệt cỏ  

295,0

 

147,2

 

442,2

 

22,2

 

75,8

 

98,0

Cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ  

161,2

 

481,0

 

642,2

 

N/a

 

N/a

 

N/a

Ngô BĐG kháng sâu 1.800,8 6.727,8 8.528,6 512,3 1.400,3 1.912,6
Bông vải BĐG kháng sâu 720,7 5.331,3 6.052,0 422,7 4.800,7 5.223,4
Các cây trồng khác 76,2 86,3 162,5 N/a N/a N/a
Tổng 5.641,4 18.769,4 24.410,8 2.320,4 8.663,2 10.983,6

N/a = không áp dụng. Chi phí tiếp cận công nghệ dựa trên phí sản xuất hạt giống mà người nông dân phải trả để sử dụng công nghệ BĐG so với với các công nghệ truyền thống tương đương

Tác động đối với sản xuất

Dựa trên tác động về năng suất được sử dụng trong công thức tính lợi ích thu nhập trang trại trực tiếp nêu trên cùng lúc đó tính đến việc canh tác thêm vụ đậu tương thứ hai ở Nam Mỹ, cây trồng BĐG đã giúp gia tăng khối lượng sản xuất ngô, bông vải, cải dầu và đậu tương trên toàn cầu từ năm 1996 (Bảng 8).

Đặc tính BĐG kháng sâu, được ứng dụng ở ngô và bông vải, chiếm 97.1% sản lượng ngô và 99.3% sản lượng bông vải tăng thêm. Tác động tích cực về năng suất nhờ việc sử dụng công nghệ này đã xuất hiện ở tất cả các nước ứng dụng công nghệ (ngoại trừ bông vải BĐG kháng sâu ở Úc) khi so sánh với năng suất trung bình thu được từ cây trồng sử dụng công nghệ truyền thống (như áp dụng thuốc trừ sâu và xử lý hạt giống). Tác động lên năng suất trung bình trên toàn bộ diện tích những cây trồng có đặc tính này trong 17 năm kể từ năm 1996 đã tăng 10.4% đối với ngô và 16.1% đối với bông vải.

Như đã chỉ ra ở trên, tác động chủ yếu của công nghệ BĐG kháng thuốc diệt cỏ là giúp kiểm soát cỏ dại đạt hiệu quả chi phí (ít tốn kém hơn) và dễ dàng hơn, chứ không nằm ở việc tăng năng suất. Tuy nhiên, việc tăng cường kiểm soát cỏ dại đã mang lại năng suất cao hơn ở một số quốc gia. Việc tăng sản lượng nhờ ứng dụng công nghệ này có được là nhờ sử dụng hệ thống canh tác không làm đất, rút ngắn chu kỳ canh tác và nó đã giúp nhiều nông dân ở Nam Mỹ trồng được một vụ đậu tương ngay sau khi trồng vụ lúa mỳ trong cùng một mùa. Vụ thứ hai này, cộng với vụ đậu tương truyền thống, đã làm tăng sản lượng đậu tương ở Argentina và Paraguay thêm 114,3 triệu tấn từ năm 1996 đến năm 2012 (chiếm 93,5% tổng sản lượng đậu tương tăng thêm liên quan đến BĐG).

Bảng 8: Sản lượng cây trồng tăng thêm nhờ những tác động tích cực về năng suất của cây trồng BĐG

Sản lượng tăng thêm 1996- 2012 (triệu tấn) Sản lượng tăng thêm 2012 (triệu tấn)
Đậu tương 122,3 12,0
Ngô 231,4 34,1
Bông vải 18,2 2,4
Cải dầu 6,6 0,4
Củ cải đường 0,6 0,15

Chú thích: Củ cải đường BĐG kháng thuốc diệt cỏ chỉ có ở Mỹ và Canada từ 2008

Tác động đói với môi trường

Để xác định tác động này, nghiên cứu đã phân tích việc sử dụng hoạt chất và dùng chỉ số tác động môi trường (Environmental Impact Quotient (EIQ)) để đánh giá tác động rộng hơn đến môi trường (và tác động lên sức khỏe con người và động vật).

Chỉ số EIQ tích hợp những tác động khác nhau về môi trường và sức khỏe của từng loại thuốc trừ sâu trong các hệ thống canh tác BĐG và truyền thống thành một ‘đơn vị chỉ số thực địa trên mỗi hecta’ duy nhất và rút ra những dữ liệu chính về độ độc hại và phơi nhiễm môi trường liên quan đến từng sản phẩm.

Vì vậy, chỉ số này cung cấp một thước đo tốt hơn nhằm đối chiếu và so sánh tác động của những loại thuốc trừ sâu khác nhau lên môi trường và sức khỏe con người hơn là chỉ tính đến trọng số của thành phần hoạt chất. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng EIQ chỉ là một chỉ số (chủ yếu đo độ độc hại) và không tính đến tất cả các vấn đề và tác động lên môi trường. Trong phân tích về công nghệ BĐG kháng thuốc diệt cỏ, giả định rằng công nghệ truyền thống đem lại mức độ kiểm soát cỏ dại ngang bằng với mức trong hệ thống canh tác BĐG kháng thuốc diệt cỏ.

Đặc tính BĐG đã góp phần giảm đáng kể tác động đến môi trường do sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ trên những khu vực trồng cây BĐG (Bảng 9). Kể từ năm 1996, lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên diện tích trồng cây BĐG đã giảm 503 triệu kg hoạt chất trừ sâu (tương đương 8,8%), và tác động đến môi trường do sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ trên những cây trồng này, đo bằng chỉ số EIQ, đã giảm 18,7%.

Bảng 9: Tác động của những thay đổi trong việc sử dụng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu nhờ cây trồng BĐG trên toàn cầu 1996-2012

 

 

 

Đặc tính cây trồng

Thay đổi về lượng thành phần hoạt chất được sử dụng (triệu kg) Thay đổi về tác động chỉ số EIQ thực địa (tính bằng triệu đơn vị chỉ số EIQ thực địa/ha) % thay đổi về lượng thành phần hoạt chất sử dụng trên cây trồng BĐG % thay đổi về tác động môi trường do sử dụng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu trên cây trồng BĐG  

 

Diện tích trồng cây BĐG 2012

(triệu ha)

Đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ -4,7 -6.654 -0,2 -15,0 79,1
Ngô BĐG kháng thuốc diệt cỏ -203,2 -6.025 -9,8 -13,3 38,5
Cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ -15,0 -509 -16,7 -26,6 8,6
Bông vải BĐG kháng thuốc diệt cỏ -18,3 -460 -6,6 -9,0 4,4
Ngô BĐG kháng sâu -57,6 -2.215 -47,9 -45,1 42,3
Bông vải BĐG kháng -205,4 -9.256 -25,6 -28,2 22,1
sâu
Củ cải đường BĐG kháng thuốc diệt cỏ +1,3 -2 +29,3 -2,0 0,51
Tổng -503,1 -25.121 -8,8 -18,7

Xét một cách tuyệt đối, lợi ích về môi trường lớn nhất có được là nhờ việc ứng dụng công nghệ BĐG kháng sâu. Bông vải BĐG kháng sâu đã góp phần làm giảm 25,6% lượng hoạt chất trừ sâu được sử dụng và 28,2% chỉ số EIQ (1996-2012) do giảm đáng kể lượng thuốc trừ sâu nhờ ứng dụng công nghệ, đây vốn là một cây trồng chuyên được sử dụng nhiều thuốc trừ sâu. Tương tự, việc sử dụng công nghệ BĐG kháng sâu trên ngô cũng giúp giảm đáng kể việc sử dụng thuốc trừ sâu, đồng thời mang lại những lợi ích về mặt môi trường.

Lượng thuốc diệt cỏ được sử dụng trên ngô BĐG cũng đã giảm 203 triệu kg (1996- 2012), tương đương 9,8%, trong khi tác động môi trường tổng thể do sử dụng thuốc diệt cỏ trên cây trồng này đã giảm nhiều hơn ở mức 13,3%. Điều này nhấn mạnh việc chuyển đổi thuốc diệt cỏ đang được dùng trên hầu hết các cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ sang các loại có hoạt chất lành tính đối với môi trường hơn là những loại thường được sử dụng trên các cây trồng truyền thống.

Những lợi ích quan trọng về môi trường cũng đã được ghi nhận trong ngành trồng đậu tương và cải dầu. Trong ngành trồng đậu tương, lượng thuốc diệt cỏ được sử dụng đã giảm 4,7 triệu kg (1996-2012) và tác động môi trường do sử dụng thuốc diệt cỏ trên diện tích cây trồng này cũng đã giảm 15%, do chuyển đổi sang những loại thuốc diệt cỏ lành tính hơn đối với môi trường. Trong ngành trồng cải dầu, nông dân đã giảm được 15 triệu kg lượng thuốc diệt cỏ (tương đương 16,7%) và tác động môi trường do sử dụng thuốc diệt cỏ trên diện tích cây trồng này đã giảm 26,6% (do chuyển đổi sang những loại thuốc diệt cỏ lành tính hơn đối với môi trường hơn).

Khi xem xét tương quan lợi ích đối với môi trường nhờ sử dụng ít thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ hơn giữa nông dân các nước phát triển và nông dân các nước đang phát triển, Bảng 10 cho thấy tỷ lệ phân chia lợi ích 54%:46% (1996-2012) tương ứng với các nước phát triển (54%) và đang phát triển (46%). Khoảng ba phần tư (73%) lợi ích môi trường ở các nước đang phát triển có được là nhờ bông vải BĐG kháng sâu.

Bảng 10: Lợi ích về môi trường của cây trồng BĐG nhờ giảm lượng sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ 1996-2012: các nước đang phát triển so với các nước phát triển

Thay đổi về tác động chỉ số EIQ thực địa (tính bằng triệu đơn vị chỉ số EIQ thực địa/ha): các nước

phát triển

Thay đổi về tác động chỉ số EIQ thực địa (tính bằng triệu EIQ thực địa/ha đơn vị triệu đơn vị chỉ số

EIQ thực địa/ha): các nước đang phát triển

Đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ -4.773,9 -1.880,2
Ngô BĐG kháng -5.585,9 -438,8
thuốc diệt cỏ
Bông vải BĐG kháng thuốc diệt cỏ -351,0 -109,3
Cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ -509,1 0
Ngô BĐG kháng sâu -1.574,4 -640,8
Bông vải BĐG kháng sâu -805,5 -8.451,0
Củ cải đường BĐG kháng thuốc diệt cỏ -2,0 0
Tổng -13.601,8 -11.520,1

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng ở một số vùng trồng nhiều cây BĐG kháng thuốc diệt cỏ, một số người nông dân đã dựa quá nhiều vào việc sử dụng một loại thuốc diệt cỏ duy nhất như glyphosate để quản lý cỏ dại ở các cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ và việc này đã góp phần làm tăng khả năng kháng thuốc của cỏ dại. Hiện nay trên toàn thế giới có 25 loại cỏ dại được nhận biết là có khả năng chống lại glyphosate, trong đó có vài loại không liên quan đến cây trồng kháng glyphosate. Chẳng hạn, hiện nay có 14 loại cỏ được nhận biết ở Mỹ là có khả năng chống lại glyphosate, trong đó có hai loại không liên quan đến cây trồng kháng glyphosate. Ở Mỹ, diện tích bị ảnh hưởng hiện đang chiếm khoảng 15-40% tổng diện tích hàng năm trồng ngô, bông vải, cải dầu, đậu tương và củ cải đường (những loại cây trồng ứng dụng công nghệ BĐG kháng thuốc diệt cỏ).

Những năm gần đây, các nhà khoa học nghiên cứu cỏ dại cũng đã dần đi đến thống nhất với nhau về sự cần thiết phải thay đổi các chương trình quản lý cỏ dại ở cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ, do cỏ dại đã phát triển thành những loài chống glyphosate. Người trồng cây BĐG kháng thuốc diệt cỏ ngày càng được khuyên phải chủ động hơn và sử dụng cả những loại thuốc diệt cỏ khác (với các phương thức hoạt động khác nhau và bổ sung cho nhau) kết hợp với glyphosate trong các hệ thống quản lý cỏ dại tổng hợp của mình, ngay cả ở những nơi chưa phát hiện trường hợp loại cỏ dại nào chống glyphosate.

Cách tiếp cận quản lý cỏ dại chủ động và đa dạng này là chiến lược chính để ngăn sự xuất hiện những loài cỏ dại có khả năng kháng thuốc ở cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ. Đây cũng là cách chủ yếu để giải quyết vấn đề về khả năng kháng thuốc của cỏ dại ở cây trồng truyền thống. Một chương trình quản lý cỏ dại chủ động cũng thường đòi hỏi sử dụng ít thuốc diệt cỏ hơn, thân thiện với môi trường hơn và kinh tế hơn so với một chương trình quản lý cỏ dại bị động.

Ở cấp độ vĩ mô, việc áp dụng cả chương trình quản lý cỏ dại chủ động và bị động trên cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ đã bắt đầu ảnh hưởng đến hỗn hợp các loại thuốc diệt cỏ, tổng lượng và tác động tổng thể đến môi trường của các loại thuốc được dùng trên đậu tương, bông vải, ngô và cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ.

Tác động lên phát thải nhà kính

Đóng góp của cây trồng BĐG vào việc làm giảm mức khí thải nhà kính đến từ hai nguồn chủ yếu:

  • Giảm sử dụng nhiên liệu do sử dụng thuốc diệt cỏ hay thuốc trừ sâu với tần suất thấp hơn và giảm tiêu thụ năng lượng cho việc làm đất. Nhiêu liệu tiết kiệm được nhờ ít phun thuốc hơn (so với cây trồng truyền thống) và chuyển đổi sang các phương pháp canh tác ít ảnh hưởng đến lớp đất phủ, giảm và không làm đất, đã giúp giảm lượng khí CO2 bị phát thải vào không khí. Năm 2012, lượng phát thải giảm được lên đến 2,111 triệu kg (từ việc giảm sử dụng 791 triệu lit nhiên liệu). Tính trên cả giai đoạn 1996-2012, lượng phát thải lũy kế đạt khoảng 16,736 triệu kg CO2 (do giảm sử dụng 6,268 triệu lit nhiên liệu);
  • Sử dụng các hệ thống canh tác “không làm đất” và “giảm làm đất”. Những hệ thống sản xuất này đã gia tăng đáng kể cùng với việc sử dụng cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ vì công nghệ này đã giúp người trồng cải thiện khả năng kiểm soát cỏ dại, giảm nhu cầu dựa vào canh tác đất và chuẩn bị luống gieo vốn được xem là những phương thức để kiểm soát cỏ dại tốt. Nhờ vậy, lượng nhiên liệu sử dụng cho máy kéo để làm đất giảm xuống, chất lượng đất tăng lên và mức độ xói mòn đất cũng giảm đi. Thay vào đó, khí cacbon được lưu trữ trong đất nhiều hơn và điều này dẫn tới lượng khí thải nhà kính giảm. Nhờ việc tiết kiệm nhiên liệu do sử dụng các hệ thống canh tác không/giảm làm đất ở Bắc và Nam Mỹ, ước tính có thêm 6,706 triệu kg cacbon trong đất được lưu trữ lại năm 2012 (tương đương với 24,613 triệu tấn CO2 được ngăn ngừa không bị thải vào bầu khí quyển toàn cầu). Tính lũy kế, lượng cacbon được lưu trữ có thể còn cao hơn con số ước tính này do lợi ích về chất lượng đất dồn lại qua từng năm; tuy nhiên, cũng có khả năng lượng cacbon được lưu trữ lũy kế thấp hơn ước tính vì chỉ một phần diện tích cây trồng sẽ được duy trì trong hệ thống canh tác không và giảm làm đất. Mặc dù vậy, không thể ước tính chính xác lượng cacbon được lưu trữ lũy kế có tính đến việc quay trở lại phương pháp canh tác làm đất truyền thống vì thiếu dữ liệu. Do đó, con số ước tính 203,560 triệu tấn CO2 được ngăn ngừa không bị thải vào bầu khí quyển cần phải được cân nhắc thận trọng.

Đặt những lợi ích về lưu trữ cacbon trong bối cảnh tương quan với khí thải cacbon từ ô tô, Bảng 11 cho thấy:

  • Năm 2012, lượng CO2 được ngăn ngừa không bị thải vào môi trường nhờ giảm lượng nhiên liệu sử dụng tương đương với việc “chặn” thành công 0,94 triệu xe ô tô lưu thông trên đường;
  • Mức tăng thêm của lượng cacbon được lưu trữ trong đất năm 2012 tương đương với việc ngăn được 10,94 triệu xe ô tô lưu thông trên đường;
  • Như vậy, trong năm 2012, tổng lượng CO2 được ngăn ngừa không bị thải vào môi trường liên quan đến cây trồng BĐG nhờ giảm lượng nhiên liệu sử dụng và mức tăng thêm của lượng cacbon được lưu trữ trong đất tương đương với việc ngăn được 11,88 triệu xe ô tô lưu thông trên đường, tức là 41,38% tổng số xe đã đăng ký tại Anh;
  • Không thể ước tính chính xác mức tăng thêm của lượng cacbon được lưu trữ trong đất từ năm 1996. Nếu toàn bộ cây trồng BĐG kháng thuốc diệt cỏ trong phương pháp canh tác giảm hoặc không làm đất trong 17 năm qua vẫn được duy trì trong

phương pháp canh tác này, điều đó sẽ giúp ngăn ngừa được 203,560 triệu kg CO2 không bị thải vào môi trường, tương đương với việc “chặn” thành công 90,5 triệu xe ô tô lưu thông trên đường. Tuy nhiên, khả năng lớn nhất và mức giảm CO2 thực tế chắc chắn sẽ thấp hơn.

Bảng 11: Tác động về lưu trữ cacbon năm 2012: quy đổi theo số xe ô tô

 

 

 

Cây trồng/đặc tính/quốc gia

Lượng CO2 được ngăn ngừa không bị thải vào môi trường nhờ giảm lượng nhiên liệu sử dụng (triệu kg CO2) Lượng nhiên liệu tiết kiệm được: quy đổi theo số xe ô tô con trung bình

bị ngăn tham gia lưu thông trên đường trong 1 năm (đơn vị: 1000 chiếc)

Mức tăng thêm tiềm năng của lượng cacbon được lưu trữ trong

đất (triệu kg CO2)

Lượng cacbon được lưu trữ trong đất: quy đổi theo số xe ô tô con trung bình bị ngăn tham gia

lưu thông trên đường trong 1 năm (đơn vị: 1000 chiếc)

Mỹ: Đậu tương

BĐG kháng thuốc diệt cỏ

 

210

 

93

 

1.070

 

475

Argentina: Đậu

tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ

 

736

 

327

 

11.186

 

4,972

Brazil: Đậu tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ  

394

 

175

 

5.985

 

2,660

Bolivia, Paraguay,

Uruguay: Đậu

tương BĐG kháng thuốc diệt cỏ

 

156

 

69

 

2.365

 

1,051

Canada: Cải dầu BĐG kháng thuốc diệt cỏ  

203

 

90

 

1.024

 

455

Mỹ: Ngô BĐG kháng thuốc diệt cỏ 210 93 2.983 1.326
Toàn cầu: Bông vải BĐG kháng sâu 45 20 0 0
Brazil: Ngô BĐG kháng sâu 157 69 0 0
Tổng 2.111 936 24.613 10.939

Chú thích: Giả định: một chiếc xe ô tô con trung bình sản sinh ra 150 gram CO2 trên 1 km.

Một chiếc xe ô tô chạy trung bình 15.000km/năm và vì vậy sản sinh ra 2.250kg CO2/năm.

Triển vọng của cây trồng biến đổi gen tại Việt Nam

Cây trồng biến đổi gen có thể là câu trả lời cho rất nhiều vấn đề nan giải mà ngành nông nghiệp Việt Nam đang gặp phải. Theo số liệu của Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi, trong năm 2013, Việt Nam nhập khẩu trên 1,5 triệu tấn ngô và gần 1 triệu tấn đậu dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.

Số liệu của Tổng Cục Hải Quan cho biết, trong năm 2014, cả nước nhập khẩu ngô tăng gấp 5 lần so với 2013. Đáng chú ý là nguồn nhập khẩu ngô của Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ thị trường Brasil, Argentina, Mỹ, Ấn Độ, Thái Lan (chiếm tới hơn 90%), những nước có diện tích trồng cây biến đổi gen lớn nhất thế giới.

Cây trồng biến đổi gen lại luôn là chủ đề nhạy cảm và có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh vấn đề sử dụng các sản phẩm từ cây trồng biến đổi gen. Nhiều chuyên gia cho biết: Thực phẩm biến đổi gen đã có mặt khá lâu trên thị trường Việt Nam, hầu hết người dân nào cũng đã dùng qua những sản phẩm này.

Tuy nhiên có một thực tế là không phải người tiêu dùng nào cũng có những hiểu biết cần thiết về loại thực phẩm mà họ đang sử dụng, chính vì vậy Bộ Y tế Việt Nam đã đưa ra yêu cầu: Cần thông tin rõ ràng về sản phẩm biến đổi gen với người tiêu dùng. Nó quá 5% thành phầnbiến đổi gen trong sản phẩm thì phải dán nhãn công bố. Điều này là sự tôn trọng người tiêu dùng để họ có quyền lựa chọn.

Có một thực tế, những loại thực phẩm biến đổi gen đang có mặt hầu hết ở các chợ và siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Một cuộc khảo sát (năm 2014) cho thấy 111/323 mẫu thực phẩm gồm: bắp, đậu nành, khoai tây, gạo, cà chua, đậu Hà Lan… chọn ngẫu nhiên ở 17 chợ, siêu thị trên địa bàn thành phố được kiểm nghiệm cho kết quả là sản phẩm biến đổi gen, trong đó có bắp Mỹ, bắp trái non, bắp non đóng hộp, bột bắp, bắp giống có nguồn gốc trong nước và nước ngoài dương tính với promoter 35S hoặc terminatornos – một dạng biến đổi gen.

Hành lang pháp lý

  • Ngày 12/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2006/QĐ- TTg phê duyệt “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”;
  • Năm 2006, sau khi có quyết định số 11/2006/QĐ-TTg, cây trồng biến đổi gen đã được đầu tư nghiên cứu và khảo nghiệm tại Việt Nam;
  • Ngày 17/11/2009 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ra Thông tư 72/2009/TT-BNNPTNT ban hành danh mục loài cây trồng biến đổi gen được phép khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường cho mục đích làm giống cây trồng ở Việt Nam;
  • Ngày 21/06/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2010/NĐ-CP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen;
  • Ngày 11/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 418/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011 – 2020”;
  • Năm 2012, Bộ NN&PTNT đã triển khai hai đợt khảo nghiệm ngô biến đổi gen trên diện rộng;
  • Năm 2013, Bộ NN&PTNT đã công nhận kết quả khảo nghiệm 5 giống ngô biến đổi gen để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cấp phép an toàn sinh học;
  • Ngày 16/5/2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 08/2013/TT-BTNMT về Đánh giá an toàn sinh học đối với cây trồng biến đổi gen, trong đó quy định thành lập Tổ chuyên gia có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật cho Hội đồng ATSH đối với từng sự kiện biến đổi gen cụ thể;
  • Ngày 24/1/2014, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT- BNNPTNT quy định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.

Một số giống ngô biến đổi gen tại Việt Nam

Ngày 11 tháng 8 năm 2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chính thức công bố phê duyệt 4 chủng loại ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.

Các giống ngô được phê duyệt bao gồm: giống BT11 và MIR162 của công ty TNHH Syngenta Việt Nam, (Bộ TN&MT cấp Giấy chứng nhận ATSH vào ngày 27 tháng 8 năm 2014), và MON 89034, NK603 của công ty TNHH Dekalb Việt Nam trực thuộc tập đoàn Monsanto, (Bộ TN&MT cấp Giấy chứng nhận ATSH vào ngày 03 tháng 11 năm 2014).

Giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi theo đúng trình tự được quy định theo thông tư 02/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Đây là 4 giống ngô biến đổi gien (BĐG) đầu tiên được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.

Quyết định ứng dụng công nghệ sinh học (cụ thể là cây trồng biến đổi gen) trong nông nghiệp thể hiện tầm nhìn chiến lược và tính đúng đắn của Chính phủ Việt Nam, vì lợi ích phát triển của toàn ngành nông nghiệp và nông dân trong nước, phù hợp với tầm nhìn phát triển nông nghiệp bền vững đến năm 2020, trong đó có chủ trương ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp và phù hợp với chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp và giảm bớt gánh nặng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

ngô biến đổi gen

Cây trồng biến đổi gen là thành tựu khoa học của nhân loại, đã được chứng minh mang lại những tác động tích cực đối với kinh tế, xã hội, môi trường; đặc biệt nâng cao lợi ích cho người nông dân.

Sự kiện này được xem là một bước tiến trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp Việt Nam và giúp nông dân sớm tiếp cận với các tiến bộ nông nghiệp hàng đầu thế giới.

Hiện nay, cây ngô là một trong những cây trồng chủ lực ở Việt Nam. Năm 2014, diên tích ngô ở Việt Nam đạt 1,2 triệu ha, với năng suất bình quân khoảng 5,6 tấn/ha. Tuy nhiên, nguồn cung ngô trong nước còn hạn chế, nên hàng năm nước ta phải chi hàng tỷ USD cho nhập khẩu ngô làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi và mức nhập khẩu này đang có xu hướng tăng trong những năm gần đây.

Ngô BĐG được thương mại hóa không phải trồng cách ly mà trồng như giống cây trồng bình thường vì đã được cấp chứng nhận về an toàn sinh học và đủ điều kiện làm thực phẩm và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Mặc dù là nước nông nghiệp nhưng hàng năm, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một khối lượng rất lớn ngô từ nước ngoài, trong đó chủ yếu là nhập khẩu ngô biến đổi gen để làm thức ăn chăn nuôi.

Thống kê của Bộ NN-PTNT cho thấy, năm 2014, Việt Nam phải bỏ ra hơn 3 tỉ USD để nhập khẩu thức ăn chăn nuôi. Trong đó, riêng nhập khẩu ngô chiếm khoảng 1 tỉ USD. Điều này cho thấy sự cần thiết trong việc nâng cao năng suất, chất lượng các giống ngô hiện tại để đáp ứng nhu cầu của ngành chăn nuôi trong nước.

Cùng nhận định trên, lãnh đạo Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cho biết, ở Việt Nam ngô là cây trồng quan trọng. Theo thống kê, năm 2014, diện tích trồng cây ngô chiếm 1,2 triệu ha và đang có chiều hướng tăng. Sản lượng ngô đạt 5,6 triệu tấn.

Tuy nhiên, khối lượng ngô cần nhập khẩu để làm thức ăn chăn nuôi vẫn vô cùng lớn. Nếu tính về khối lượng, năm 2014, Việt Nam đã phải nhập tới 4,3 triệu tấn.

Do đó, việc đưa vào sản xuất đại trà các giống ngô biến đổi gen sẽ giúp tăng năng suất, giảm số lượng ngô phải nhập khẩu. 3 giống ngô biến đổi gen trên sẽ giúp nông dân có thêm lựa chọn để tăng năng suất cũng như chất lượng canh tác.

Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp ở Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Cụ thể là: nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu do chế độ đãi ngộ về đào tạo, nghiên cứu, hoạt động chưa phù hợp, còn nhiều bất cập; kinh phí nghiên cứu hạn chế, thủ tục thanh toán phức tạp; việc đầu tư, quản lý các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu ở nhiều viện, trường còn dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả; chưa phát huy được sự liên kết từ nghiên cứu đến ứng dụng giữa cơ sở nghiên cứu với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong ngành nông nghiệp,…

Bài viết liên quan:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *